chú ý không chủ định phụ thuộc nhiều nhất vào
Có thể nói rằng không ít bậc phụ huynh cho rằng khi con em mình vào đại học thì cuộc sống trong tương lai mới có tốt đẹp được. Chính vì vậy, mà các bậc phụ huynh thường kỳ vọng rằng con mình sẽ đỗ vào một trường đại học nào đó thật tốt.
Phụ nữ dù trong hoàn cảnh nào cũng phải tự lập, tự hoàn thiện bản thân, không bao giờ phụ thuộc quá nhiều vào một người đàn ông và một mối quan hệ. Đây không phải là thiếu tin tưởng đàn ông và tình yêu mà là có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình. Không ai
(một khuôn hình nhất định). Diệp Quang Ban (2000) cho rằng: Đây chính là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết. 1.1.2 Những hiểu biết về đọc và đọc hiểu văn bản 1.1.2.1 Khái niệm đọc, ý nghĩa nhiệm vụ của việc dạy tập đọc ở Tiểu học a. Đọc là gì?
Khi nấu chè, muốn tốn ít đường mà chè vẫn có độ ngọt, người ta thường cho thêm một ít muối vào nồi chè. Đó là sự vận dụng của quy luật: Chú ý có chủ định phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố nào dưới đây? Dựa vào chức năng người ta chia nơron thành mấy nhóm:
Theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo
contoh pidato tentang hidup rukun dan damai. Giáo dục Cổng trường Tuyển sinh Du học TPO - Ông Lê Văn Quỳnh - Phó hiệu trưởng THCS Kỳ Xuân Hà Tĩnh vừa bị buộc thôi việc sau nhiều tháng không đi làm, dù trường đã 3 lần gửi giấy mời. Ngày 8/6, ông Nguyễn Tiến Hùng, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh vừa ký, ban hành quyết định thi hành kỷ luật viên chức giáo dục bằng hình thức buộc thôi việc đối với ông Lê Văn Quỳnh SN 1978 - Phó hiệu trưởng Trường THCS Kỳ Xuân. Ông Quỳnh bị kỷ luật, buộc thôi việc vì vi phạm nghiêm trọng quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập. Trường THCS Kỳ Xuân. Theo lãnh đạo địa phương, từ ngày 8/3 đến nay, ông Quỳnh không đến làm việc tại cơ quan, dù Trường THCS Kỳ Xuân đã 3 lần gửi giấy mời làm việc. Với vai trò Phó hiệu trưởng Trường THCS Kỳ Xuân, là viên chức quản lý, ông Lê Văn Quỳnh tự ý bỏ việc khi không được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền là vi phạm đạo đức nhà giáo, quy định, quy chế cơ quan, đơn vị, làm ảnh hưởng không tốt đến phụ huynh, học sinh và ngành Giáo dục. Ông Quỳnh cũng vi phạm quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn Trường THCS Kỳ Xuân và vợ của ông Quỳnh, người này bỏ việc để tìm công việc khác phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình. Báo cáo cũng khẳng định việc ông Quỳnh tự ý bỏ việc xuất phát từ nhu cầu nguyện vọng của cá nhân, điều kiện hoàn cảnh gia đình, không vì lý do nào khác. 29/04/2023 28/04/2023 28/04/2023
MỤC LỤC MỞ ĐẦU..............................................................................................................1 NỘI DUNG...........................................................................................................1 I, Khái niệm chung về chú ý...........................................................................2 1. Định nghĩa................................................................................................2 2. Vai trò.......................................................................................................2 3. Các thuộc tính của chú ý.........................................................................2 II, Phân loại chú ý...........................................................................................3 Căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thể chia chú ý làm ba loại chú ý không chủ định, chú ý có chủ định, chú ý sau chủ định....................................................................................................................3 1. Chú ý không chủ định..............................................................................3 2. Chú ý có chủ định....................................................................................4 3. Chú ý sau chủ định..................................................................................6 Tuy nhiên, căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thành Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài....................................8 Chú ý bên ngoài........................................................................................8 Chú ý bên trong.........................................................................................9 KẾT LUẬN...........................................................................................................9 0 MỞ ĐẦU Trong các hiện tượng tâm lý, chú ý là một hiện tượng tâm lý quan trọng, nó không phải là một quá trình độc lập, cũng không phải là một thuộc tính tâm lý của cá nhân. Chú ý là hiện tượng tâm lý độc đáo luôn xuất hiện kèm theo hoạt động, cũng như luôn có mặt trong các quá trình nhận thức của cá nhân, làm cho chúng diễn ra với những sắc thái khác nhau. Vì thế chú ý là một biểu hiện đặc trưng của trạng thái tâm lý. Để nhận thức sâu sắc về vấn đề này nhóm em xin đi nghiên cứu đề tài “ Trình bày khái niệm chú ý, các đặc điểm đặc trưng, ưu thế hạn chế của các loại chú ý”. NỘI DUNG I, Khái niệm chung về chú ý 1. Định nghĩa Chú ý là sự tập trung của hoạt động tâm lý vào một hoặc một số đối tượng nào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất. 2. Vai trò Chú ý giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Chú ý là điều kiện để hoạt động nhận thức diễn ra dưới các cấp độ khác nhau. Chú ý giúp ta tiếp cận, nắm bắt được đối tượng và làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức. Khi đánh giá vai trò của chú ý, nhà khoa học người Nga cho rằng, chú ý chính là cánh cửa mà mọi sự vật của thế giới xung quanh muốn đi vào được tâm hồn mỗi con người, đều phải đi qua. Đồng thời trong hoạt động thực tiễn, sự chú ý đến các thuộc tính căn bản nhất của sự vật, hiện tượng giúp ta cân nhắc đến các thuộc tính ấy một cách tốt nhất. Qua đó, tổ chức hoạt động thực tiễn phù hợp với đặc điểm của hoàn cảnh và nhiệm vụ đề ra trước mỗi con người. Ngoài ra chú ý còn thể hiện gián tiếp 1 các đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân như nhu cầu, hứng thú...Vì thế thông qua chú ý, con người còn tự thể hiện, tự bộc lộ bản thân mình. Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp, chú ý có vai trò quan trọng. Chú ý ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc mà người cán bộ tư pháp tiến hành. Chú ý giúp cán bộ tư pháp tập trung nhận thưc của mình lên các tình tiết, các thông tin cần thiết, đảm bảo được tính khách quan, đúng đắn của hoạt động nhận thức. Trong hoạt động tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, nếu người cán bộ tư pháp biết định hướng chú ý của các chủ thể tham gia tố tụng một cách hợp lý sẽ giúp cho việc đánh giá tính đúng đắn trong lời khai của họ, đảm bảo cho việc thu thập và làm sáng tỏ các thông tin cần thiết. 3. Các thuộc tính của chú ý - Khối lượng chú ý được đo bằng số lượng đối tượng mà chú ý có thể hướng tới trong một khoảng thời gian rất ngắn. - Phân phối chú ý là năng lực chú ý đồng thời hướng tới một số đối tượng. - Tập trung chú ý là việc con người hướng tới hoạt động tâm lý, tập trung cao độ vào một số đối tượng cần thiết của hành động. - Sự bền vững của chú ý Độ bền vững của chú ý được thể hiện ở khả năng duy trì lâu dài chú ý tới một hoặc một số đối tượng. - Sự di chuyển chú ý là sự dịch chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có chủ định. II, Phân loại chú ý Căn cứ vào tính tích cực của con người trong việc tổ chức chú ý có thể chia chú ý làm ba loại chú ý không chủ định, chú ý có chủ định, chú ý sau chủ định. 1. Chú ý không chủ định Khái niệm Là sự tập trung ý thức lên một đối tượng nhất định khi có sự tác động kích thích của đối tượng đó. Như vậy, chú ý không chủ định là trạng thái chú ý không định trước , không theo một kế hoạch và mục đích nào cả. 2 Ví dụ, anh A đến cửa hàng với ý định mua hàng hóa B,vô tình nhìn thấy hàng hóa C, cảm thấy hàng đó hay hay, liền chú ý tới hàng hóa C, như thế chú ý của anh A là chú ý không có chủ định. Đặc điểm Chú ý không chủ định có thể xuất hiện phụ thuộc vào những đặc điểm sau đây của kích thích - Tính chất mới mẻ, sinh động bất thường - Cường độ của kích thích theo quy luật về cường độ đối với thần kinh, thì kích thích càng mạnh hưng phấn do nó gây nên càng lớn. Do vậy dễ tạo ra chú ý không chủ định nhưng nếu kích thích quá mạnh sẽ gây ra phản ứng đau - Độ hấp dẫn của vật kích thích là một điểm tổng hợp của hai đặc điểm trên, thể hiện ở mức độ phù hợp với người bị tác động, dễ gây “tò mò” ở người đó. - Sự bắt đầu hoặc kết thúc một kích thích Ưu thế - Làm cho hiểu biết của con người phong phú, đa dạng. - Tế bào thần kinh lúc thì căng thẳng, lúc thì thoải mái, nhẹ nhõm, do đó khó xảy ra tình trạng mệt nhọc về tâm lý, cũng khó bị ức chế tức là tiêu hao ít năng lượng thần kinh con người ít bị mệt mỏi. Hạn chế - Về tính bền vững do không có sự nỗ lực của ý chí nên thời gian ngắn và dễ thay đổi. - Về tính mục đích, chú ý không chủ định không có mục đích sẵn từ trước nên tính tự giác kém. - Dễ bị phân tâm, không thể định hướng hoạt động tâm lý vào sự vật cụ thể nào, khó làm tốt công việc. - Bị tính chất và cường độ kích thích của vật kích thích chi phối. 2. Chú ý có chủ định Khái niệm Chú ý có chủ định là sự điều chỉnh một cách có ý thức sự tập trung lên một đối tượng nào đó nhằm thỏa mãn những yêu cầu của hoạt động. 3 Đặc điểm đặc trưng Chú ý có chủ định là loại chú ý cao hơn chú ý không chủ định. Chú ý không chủ định chỉ là sự bột phát ngẫu nhiên dưới tác động kích thích của các yếu tố kích thích mà thôi, nhưng chú ý có chủ định là loại chú ý thể hiện được ý chí, nhận thức của chủ thể chú ý. Chú ý có chủ định có những đặc trưng sau đây Đặc điểm thứ nhất của chú ý có chủ định là tính mục đích, đây là đặc điểm nổi bật của chú ý có chủ định. Để tham gia vào hoạt động, con người luôn luôn phải có những động cơ thúc đẩy, ví dụ việc một người học nhiều môn ngoại ngữ, tham gia vào hoạt động học ngoại ngữ, người đó được thỏa mãn nhu cầu hứng thú với nhiều ngoại ngữ của mình, đó là động cơ thúc đẩy cá nhân tham gia vào hoạt động. Con người luôn đặt ra những đích cần phải thực hiện khi tham gia vào hoạt động, bản thân xác định được mục đích hành động sẽ gạt bỏ những yếu tố tác động không quan trong bên lề mà chỉ tập trung vào đối tượng nhằm đạt được mục đích mà thôi, không phụ thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích thích mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn. Tính mục đích giúp con người luôn luôn nhận định đúng vấn đề, tránh sai lạc, đảm bảo sẽ đạt được mục tiêu ban đầu, đó là “kim chỉ nam” của mọi hoạt động. Đặc điểm thứ hai, chú ý có chủ định là sự nỗ lực của ý chí. Con người là động vật cao cấp nhất, ở con người tồn tại nhận thức và tư duy, chú ý có chủ định đã thể hiện điều này rất rõ. Không phải lúc nào đối tượng tác động cũng gây được chú ý, bên cạnh đó không phải chú ý nào cũng tồn tại lâu dài. Nhờ có sự nỗ lực ý chí mà ta duy trì được sự tập trung chú ý trong một thời gian dài ví dụ, nhiều khi ngồi trong lớp học ta cảm thấy rất chán nản nhưng ta đã nhận thức được việc mình phỉa ngồi trong lớp học, cố gắng nghe giảng. Như vậy nhờ có sự nỗ lực ý chí mà ta duy trì được sự tập trung chú ý trong một thời gian dài mà không bị phân tán. Bên cạnh đó sự nỗ lực ý chí gây nên một trạng thái căng thẳng, một sự tập trung sức lực để giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra. 4 Đặc điểm thứ ba, trong chú ý có chủ định có sự sắp xếp tổ chức trình tự của chú ý trong hoạt động, nó thể hiện ở tính tổ chức của chú chú ý không chủ định hoạt động chú ý xẩy đển hoàn toàn ngẫu nhiên, chủ thể khôngg có sự chuẩn bị. Trong chú ý có chủ định, chủ thể biết trước mình sẽ chú ý vào đối tượng nào và đã có sự chuẩn bị trong tư duy. Ví dụ khi học bài, học sinh biết là mình phải làm những bài tập gì, phải lảm phần nào trước theo từng trình tự nhất định dù có thích môn đó hay không. Ưu thế và hạn chế của chú ý có chủ định Ưu thế của chú ý có chủ định xuất phát ngay từ những đặc điểm đặc trưng của nó. - Hoạt động chú ý đã có mục đích cụ thể, không ngẫu nhiên như chú ý không chủ định. Trong mỗi hoạt động, cái tiền đề đầu tiên là vô cùng quan trọng, nó đánh dấu sự khởi đầu, động cơ chính là cái đầu tiên thúc đẩy con người hành động, mục đích chính cái mà người ta muốn đạt được,cái con người hình dung về kết quả, đó là sự “động viên” để mỗi người nỗ lực hoạt động. Hơn nữa, chính việc xác định được mục đích hành động sẽ tạo nên một áp lực buộc phải hành động, thúc ép chủ thể phải tiến hành hoạt động, hoàn thành mục tiêu. - Sự sắp xếp tổ chức trình tự của chú ý trong hoạt động sẽ tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức có hiệu quả hơn. Một khi có sự sắp xếp, ta sẽ điều chỉnh được sự hợp lí của thứ tự các hành động, phát huy được hiệu quả nhận thức. Hạn chế của chú ý có chủ định là Chú ý có chủ định thường là loại chú ý mà chủ thể không có sự hứng thú lắm với đối tuợng thậm trí trong nhiều trường hợp là chán nản, uể oải trước sự tác động của đối tượng. Khi đó cần có sự nỗ lực của bản thân, đôi khi sự nỗ lực đó chỉ đạt được bên ngoài mà không đạt được thực chất bên trong. Ví dụ khi ngồi trong lớp học, sinh viên thể hiện sự uể oải, không tập trung vào bài học, khi có sự nhắc nhở của giáo viên đã tập trung vào bài giảng hơn nhưng suy nghĩ vẫn không tập trung vào bài giảng do đó không hiểu bài. 5 3. Chú ý sau chủ định khái niệm Chú ý sau chủ định là sự tập trung ý thức tới một đối tượng mà đối tượng đó có ý nghĩa nhất định đối vói cá nhân. đặc điểm Chú ý sau chủ định xuất hiện sau khi đã hình thành chú ý có chủ định. Ở chú ý sau chủ định , đối tượng mà chú ý hướng tới gây nên cho cá nhân những hứng thú đặc biệt. Do vậy, chú ý được duy trì không cần có sự tham gia của ý thế, nó không gây nên trạng thái căng thẳng trong tâm lý cá nhân. Chẳng hạn, học sinh có thẻ bắt đầu giải toán mà không có một chút hứng thú nào hết. Khi ấy, học sinh phải có sự nỗ lực ý chí để có thể tập trung vào việc giải bài toán. Trong thời gian làm bài, xuất hiện những nguyên nhân nào dụ do hứng thú, do sự tự khẳng định “bằng bất cứ giá nào cũng phải làm được”…làm cho sự tham gia của chú ý trong việc duy trì chú ý là không cần thiết nữa. Lúc này học sinh hoàn toàn bị cuốn hút vào việc giải toán. Như vậy, ở học sinh đã xuất hiện chú ý sau chủ định. Trong hoạt động tư pháp, các loại chú ý nói trên có mối quan hệ nhất định với nhau. Những yếu tố khách quan chủ yếu sẽ làm xuất hiện chú ý không có chủ định. Tiếp đến, sự tham gia của các yếu tố chủ quan sẽ làm hình thành ở người cán bộ tư pháp chú ý có chủ định, định hướng hoạt động tâm lý của quá trình hoạt động, mức độ căng thẳng của chú ý thay đổi có thể dẫn đến một thời điểm chú ý được duy trì mà không cần có sự nỗ lực của ý chí . Lúc này, loại chú ý cao cấp nhất, bền vững nhất được hình thành, đó là chú ý sau chủ định. Ưu điểm Có thể thấy ưu điểm của chú ý sau chủ định là đây là chú ý thuộc loại cao cấp nhất, có hiệu quả nhất đối với hoạt động nhận thức của con người. Chú ý sau chủ định thường là loại chú ý có độ tập trung cao nhất. Chủ thể nhận thức có ý định về một đề tài, mới đầu chỉ là phác thảo , phác họa ý tưởng. Từ phác thảo phác họa ấy, đi đến thành lời nói biểu đạt, biểu hiện ra, theo đó mà hành động. 6 Sau khi hành động, ta lại hồi tưởng ôn nhớ lại. Đó là tất yếu của một tiến trình, đi từ ý tưởng trở thành hiện ý có sau tiến trình này là sự chú ý có tập trung, đúc kết, để lại kinh nghiệm về những hậu quả, thành quả hiến nhiên mà chủ thể đã có. Cho nên chú ý có sau này, tức là chú ý có sau “chủ định” mang tính hiệu quả nhất trong hoạt động nhận thức của con người, cộng đồng và nhân loại. Hay nói cách khác, từ ý định chủ quan biến thành hiện thực khách quan, tức điều mà người khác, mọi khách thể đều công nhận. Bên cạnh đó, chú ý sau chủ định giúp lựa chọn những hình ảnh của bên ngoài có ý nghĩa, phù hợp với nhu cầu hoạt động, tránh và ức chế đối với những ảnh hưởng không thống nhất với hoạt động trước mắt, làm phân tán sự chú ý. Chú ý sau chủ định lưu trữ hình ảnh hoặc nội dung của đối tượng chú ý trong ý thức chủ thể cho tới khi đạt mục đích mới thôi. Chú ý sau chủ định làm nhiệm vụ điều tiết và giám sát hoạt đọng, cùng một lúc phân phối sự chú ý vào các sự vật khác nhau. Có người hay lỡ mồm, lỡ miệng, lỡ chân tay, qua loa đại khái, lơ đãng, điều đó do chức năng giám sát tâm lý không được tốt. Có thể lấy một ví dụ để làm rõ về chú ý sau chủ định như sau khi giáo viên yêu cầu sinh viên lên thư viện đọc tài liệu tham khảo để chuẩn bị cho bài học, sẽ có không ít các sinh viên với tư tưởng là không cần đọc hay đọc cho có hoặc thậm chí cho rằng việc đó không cần thiết đối với bản thân. Nhưng những sinh viên lên thư viện tức là đã xác định sẽ đọc hay tìm hiểu một cái gì đó cho dù là tự nguyện hay thuộc về trường hợp bắt buộc. Tuy vậy thì các trường hợp này cũng đã phải xác định cho mình mục đích để lên thư viện và do đó có kế hoạch để đọc chú ý có chủ định , nhưng khi đọc các sinh viên lại thấy vấn đề mà mình đang tìm hiểu rất thú vị, hấp dẫn, cung cấp nhiều tri thức không những phục vụ cho việc học mà còn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống do đó sinh viên đó đọc một mạch xong lúc nào không hay chú ý không chủ định. Từ đó có thể thấy trong trường hợp này việc "cố gắng" chú ý vào việc đọc tài liệu ban đầu không còn cần thiết nữa, thay vào đó chính là sự thích thú, đam mê, hoàn toàn bị cuốn hút vào công việc mà bản thân đang 7 làm. Đó chính là sự chuyển hoá giữa hai loại chú ý chú ý có chủ định lúc đầu, trở thành chú ý không chủ định về sau còn gọi là chú ý sau chủ định. Tuy nhiên, căn cứ vào đối tượng mà chú ý hướng tới ta có thể phân chia chú ý thành Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài. Chú ý bên ngoài Là loại chú ý hướng vào các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan. Loại chú ý này đòi hỏi phải sử dụng các giác quan thị giác, thính giác…. Các yếu tố gây nên chú ý bên ngoài bao gồm các kích thích sau + Các kích thích có cường độ mạnh như âm thanh mạnh, ánh sáng chói, mùi khó chịu …Các kích thích này luôn gây được sự chú ý + Các kích thích có sự mới lạ cũng gây nên sự chú ý. Sự mới lạ này có thể ở toàn bộ kích thích, có thể ở một phần của kích thích, hoặc ở sự không bình thường của nó. + Đặc biệt, trật tự sắp xếp, cấu tạo của kích thích có thể ảnh hưởng tích cực lên chú ý của con người. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn của hoạt động tư pháp. Người cán bộ tư pháp phải lưu ý đến yếu tố này mà sắp xếp thông tin cho hợp lý, tạo điều kiện tốt nhất cho việc nhận thức vụ án. Chú ý bên trong Là loại chú ý gắn liền với ý thức của cá nhân đối với hành động của mình, đối với thế giới nội tâm và với ý thức bản ngã của cá nhân. Đối tượng của chú ý bên trong là những cảm xúc, những hồi tưởng, những suy tư… của cá nhân. Chú ý bên trong chỉ có ở con người do động vật không có ý thức đối với cuộc sống nội tâm của chúng. Chú ý bên trong và chú ý bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ và thường đi đôi với nhau. Điều đó dễ hiểu vì khi chú ý làm một việc gì con người thường kết hợp nhận cảm tính, hành động, suy nghĩ, tư duy, có lúc đem hết tình cảm và lòng tin vào việc mình đang làm. 8 Tuy nhiên, cũng có những việc, những lúc mà chú ý bên ngoài và chú ý bên trong hoàn toàn độc lập với nhau. Có những công việc chỉ đòi hỏi sự tập trung chú ý bên ngoài mà không cần chú ý bên trong. Ngược lại, cũng có những việc mà con người phải sử dụng chú ý bên trong là chủ yếu. Lúc này chú ý bên ngoài và chú ý bên trong luôn kìm hãm nhau. KẾT LUẬN Tóm lại, chú ý là hiện tượng tâm lý độc đáo, nó luôn xuất hiện kèm theo các hoạt động thực tiễn, cũng như luôn có mặt trong các quá trình nhận thức của mỗi cá nhân. Vì thế, chú ý là một biểu hiện đặc trưng của cá nhân trong hoạt động sống. Đối với những người hoạt động trong nghề luật nói chung, và với những người cán bộ tiến hành tố tụng nói riêng, chú ý có một vai trò quan trọng. Chú ý được hình thành trong quá trình hoạt động của họ, và trở thành một phẩm chất nghề nghiệp không thể thiếu cho những người hoạt động trong nghề luật. 9
Trang chủ Hướng Nghiệp Xã hội nhân văn ADMICRO A. Đặc điểm vật kích thích. B. Xu hướng cá nhân. C. Mục đích hoạt động. D. Tình cảm của cá nhân. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang chủ Đại Học Xã hội nhân văn ADMICRO A. Đặc điểm vật kích thích. B. Xu hướng cá nhân. C. Mục đích hoạt động. D. Tình cảm của cá nhân. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chú ý là gì? Đặc điểm, phân loại, các thuộc ý là gì?Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu ý là một trạng thái tâm lí thường “đi kèm” với các hoạt động tâm lí mà chủ yếu là các hoạt động nhận thức, bởi vì khi đi với quá trình xúc cảm thì cũng chính là chú ý nhận biết tâm hạng, trạng thái xúc động của bản thân, hoặc chú ý trong hành động là chú ý nhận biết tri giác những động tác kết quả của hành động. Chú ý tạo điều kiện cho các hoạt động đó phản ánh tốt nhất đối tượng. Chú ý không có đối tượng riêng, đối tượng của nó chính là đối tượng của hoạt động tâm lí mà nó “đi kèm”.Vì vậy chú ý được coi là “cái nền”, “cái phông”, là điều kiện tâm lí của hoạt động có ý sở sinh lí của chú ý là phản xạ định hướng phản xạ “cái gì thế”, Phản xạ định hướng xuất hiện trong não bộ khi có kích thích mới lạ trong môi trường sống, nó có tác dụng định hướng và giúp cho cơ thể có thể phản ứng tốt nhất đối với vật kích thích. Phản xạ định hướng là phản xạ bẩm sinh, xuất hiện với bất cứ kích thích nào miễn là kích thích mới lạ, khác thường, nếu kích thích lặp đi, lặp lại thì phản xạ sẽ bị ý thường được biểu hiện ra bằng cả những dấu hiệu bên ngoài và bên trong như bằng những hình thức nhìn “chằm chằm”, “không chớp mắt”, “vểnh tai”, “há hốc miệng” khi nghe, kìm hãm những động tác thừa “ngồi im thin thít hoặc ngược lại cử động cơ thể theo những cử động hay chuyển động của đối tượng chú ý. Khi chú ý tập trung lâu dài, căng thẳng, hô hấp cơ thể thay đổi khi đó hô hấp trở nên nông hơn, thưa hơn, quan hệ giữa thời gian hít vào và thở ra thay đổi, thời gian hít vào ngắn và thở ra dài nhiên không phải lúc nào giữa chú ý và các biểu hiện của chú ý cũng đồng nhất, mà có lúc mâu thuẫn giữa biểu hiện bên ngoài và chú ý bên trong thường gọi là “vờ chú ý”. Vì vậy khi đánh giá chú ý vừa phải căn cứ vào hiệu quả của chú ý, đồng thời cũng phải thấy rằng có trường hợp chú ý tốt nhưng hiệu quả không cao do các nguyên nhân khác nhau của chủ loại chú ýCó ba loại chú ý chú ý không chủ định, chú ý có chủ định và chú ý sau chủ Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích tự giác, không cần sự nỗ lực của bản thân, không sử dụng một biện pháp thủ thuật nào mà vẫn chú ý được vào đối ý không chủ định chủ yếu do tác động bên ngoài gây ra, phụ thuộc vào đặc điểm vật kích kích thích mới lạ, hấp dẫn về hình dáng, màu độ của vật kích tương phản giữa vật kích thích và bối đặc điểm của bản thân đối tượng vật kích thích, thì quan hệ của đối tượng với nhu cầu, hứng thú tình cảm của chủ thể cũng là nguyên nhân gây ra chú ý không chủ định. Chú ý không chủ định có đặc điểm cơ bản Không có mục đích đặt ra trước không có biện pháp để chú ý, không đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực ý chí, vì vậy sẽ ít mệt mỏi và không căng thẳng thần kinh nhưng đồng thời chú ý không chủ định kém bền Chú ý có chủ định là loại chú ý có mục đích tự giác, có biện pháp để hướng chứ ý vào đối tượng, đòi hỏi một sự nỗ lực nhất ý có chủ định xuất hiện do nhận thức của bản thân chủ thể cần thiết chú ý tới đối tượng. Nó có các đặc điểm cơ bản sau – Có mục đích tự giác, có kế hoạch biện pháp để chú ý. – Có liên quan chặt chẽ với hệ thống tín hiệu thứ hai, tình cảm, hứng thú của cá bền vữngĐòi hỏi sự nỗ lực ý chí nhất định của chủ thể để khắc phục những trở ngại bên ngoài hoặc bên trong của chủ thế mặt hạn chế lớn nhất của chú ý có chủ định là chú ý lâu sẽ sinh ra mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, giảm hứng thú hoạt Chú ý sau chủ địnhLoại chú ý này vốn là chú ý có chủ định nhưng không đòi hỏi sự căng thẳng về ý chí, lôi cuốn con người vào nội dung và phương thức hoạt động tới mức khoái cảm, đem lại hiệu quả cao của chú ý. Ví dụ khi bắt đầu đọc sách cần chú ý có chủ định, nhưng càng đọc bị nội dung cuốn sách thu hút hấp dẫn không cần phải cố gắng bản thân nữa, không căng thẳng thần kinh và ý chí. Lúc này chú ý có chủ định đã chuyển thành chú ý “sau chủ định”.Chú ý sau chủ định không khác biệt với chú ý không chủ định ở tính có mục đích tri giác nhưng nó cũng không đồng nhất với chú ý có chủ định vì sự say mê, hứng thú và không có sự căng thẳng ý loại chú ý trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chuyển hóa cho nhau, giúp con người phản ánh tốt nhất đối tượng. Các loại chú ý trên đều cần thiết cho hoạt động của con người vì mỗi loại chú ý đều có ưu điểm và hạn chế của nó, trong đó chú ý “sau chủ định” là loại chú ý cần hình thành trong các hoạt động của con thuộc tính cơ bản của chú ýSức tập trung chú ý Đó là khả năng chú ý tập trung vào một phạm vi hẹp, chỉ chú ý đến một hay một số đối tượng cần thiết cho hoạt động nhằm phản ánh đối tượng được tốt nhất, số lượng các đối tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý. Sức chú ý càng cao thì cường độ chú ý càng lớn và hiệu quả hoạt động bền vững của chú ý Khả năng duy trì chú ý trong một thời gian dài đối với một hay một số đối tượng nhất định không chuyển sang đối tượng cực với tính bền vững là sự phân tán chú ý. Phân tán chú ý là có chú ý nhưng không tập trung cao độ lâu bền vào đối tượng, cũng như không phân phối di chuyển chú ý một cách có tổ bền vững của chú ý không mâu thuẫn với sức tập trung chú ý và sự di chuyển của chú ý. Tính bền vững của chú ý có quan hệ mật thiết với các đặc điểm của cá nhân cũng như điều kiện khách quan của hoạt phân phối chú ý Đó là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định. Phân phối chú ý không có nghĩa là chia đều sự chú ý cho mọi đối tượng hoạt động mà có sự không đồng đều chú ý ở các đối tượng khác nhau, đối tượng chính được chú ý nhiều, các đối tượng khác được chú ý ít hơn. Muốn phân phối chú ý tốt thì phải đưa một số đối tượng hoạt động trở thành quen thuộc, chỉ có một hay một số hoạt động phân phối chú ý không có mâu thuẫn gì với sức tập trung chú ý vì trong phân phối chú ý cũng có sự tập trung chú ý vào hoạt động di chuyển chú ý Đó là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động. Sự di chuyển chú ý không mâu thuẫn với độ bền vững của chú ý và cũng không phải là phân tán chú ý vì nó được di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có ý thức và khi chuyển sang đối tượng chú ý mới thì chú ý lại được tập trung với cường độTrên đây là những thuộc tính cơ bản của chú ý, biểu hiện chiều sâu, chiều rộng và tính linh hoạt của chú ý, giữa chúng có quan hệ bổ sung cho nhau và cần thiết cho mọi hoạt động của con người. Mỗi thuộc tính của chú ý có thể giữ vai trò tích cực hay không tùy thuộc vào việc biết sử dụng từng thuộc tính hay phối hợp các thuộc tính theo yêu cầu của hoạt động.
chú ý không chủ định phụ thuộc nhiều nhất vào